Tên khoa học: Cinnamomi Cortex
Họ: Lauraceace
Tính vị: ngọt, cay, mùi hăng
Đi vào kinh: Tâm, Thận, Can, Tỳ
Đặc tính: làm ấm, bổ dương, tán hàn, lưu thông huyết
Liều: 1.4-4.5 gam, thường được cho vào khi sắp nấu xong thuốc thang
Thận trọng: nhiệt, nóng trong người do âm hư, thai kỳ
Độc tính: chưa ghi nhận ngộ độc ở liều khuyến cáo Quá liều, >18 gam/ ngày gây những tác dụng phụ như: cảm giác căng ở bụng, tiểu nóng rát, tiểu đỏ, cảm giác nóng ở ngực, khát, đỏ mắt, táo bón

Nội dung bài viết
Tác dụng và chỉ định của vị thuốc bắc nhục quế
- Bổ thận dương và Tỳ Dương, làm ấm Tâm Dương: những trường hợp thận dương không đủ, sự suy yếu của mệnh môn. Những triệu chứng hay gặp là: sợ lạnh, tay chân lạnh, lưng yếu đau, bất lực, và tiểu thường xuyên. Hơn nữa, sự suy yếu của Thận dương, Tỳ dương gây lạnh bụng, đau bụng, giảm thèm ăn, và tiêu chảy. Thở rít, do Thận không thể giữ được khí (nạp khí). Hơn nữa, thuốc bắc Nhục Quế có thể làm ấm Tâm dương, đặc biệt trong trường hợp tâm dương hư gây ra sự ứ trệ tắt nghẽn ở ngực
- Tán hàn, làm ấm các kinh mạch, khơi thông các kinh mạch bị tắt và giảm đau: nội hàn sẽ làm khí trong cơ thể không thể lưu thông và huyết bị ứ lại. Những vẫn đề đó là: hàn vào huyết sẽ gây rối loạn kinh nguyệt, không có kinh nguyệt; hàn thấp ứ trệ sẽ gây đau. Vị thuốc Nhục Quế có khả năng đi vào huyết phận (máu) và được dùng ở liều thấp để thúc đẩy sự tuần hoàn của máu.
- Dẫn lửa trở về nguồn: vị thuốc bắc nhục quế là vị thuốc cơ bản trong việc điều trị phần dương bị hư. Những triệu chứng là: mặt đỏ, thở rít, ra mồ hôi rất nhiều, tính chất mồ hôi như dầu, tay chân lạnh và yếu không có sức, mạch thì nhỏ nhẹ. Nhóm các triệu chứng này gọi là: chân hàn, giả nhiệt”, nóng trên/ lạnh dưới : phần trên của cơ thể có biểu hiện của nhiệt: miệng khô, họng đau, đau răng nhiều về đêm, ….; phần dưới có biểu hiện của hàn: đau lưng dưới, chi dưới lạnh, tiêu chảy. Do phần dương quá yếu, nên phần âm của cơ thể lấn át phần dương, đẩy phần dương đi lên trên, vị thuốc nhục quế đưa phần dương (được ví như lửa) trở về vị trí ban đầu của nó.
- Tăng sự vận hành của khí và huyết
Tính vị của vị thuốc Nhục Quế
- Nhục quế vị ngọt, mùi hăng, cay, ấm. Vị ngọt làm nhục quế có khả năng bổ cho tạng phủ, mùi hăng làm nó có khả năng tán (giải trừ), và tính ấm giúp nhục quế có khả năng khơi thông những nơi ứ trệ do hàn (lạnh). Vị thuốc này, có khả năng đi vào kinh mạch Tâm, Tỳ, Can, Thận
- Nhục Quế làm ấm Tâm Dương, tán những ứ trệ ở ngực do hàn gây ra, tăng cường lưu thông huyết trong kinh mạch. Để chữa những rối loạn của Tâm thì người ta dùng nhục quế đã bỏ hết phần vỏ bên ngoài được gọi là “nhục quế tâm” có màu tía để bổ vào tâm huyết. Quế Nhục cũng làm ấm Tỳ dương, khi Tỳ dương hư làm người bệnh không thèm ăn, không muốn ăn, đi tiêu phân nát và lẫn thức ăn chưa được tiêu hoá. Thận dương nếu bị hư, thì dụng vị thuốc này càng thích hợp.Vị thuốc bắc này đi vào cả Can huyết: tán huyết ứ, khơi thông lại kinh nguyệt bị tắt, bị mất, giảm đau bụng kinh do hàn.
- Vị thuốc bắc Nhục Quế đi vào kinh Thận và bổ Thận dương và lửa ở mệnh môn (cổng của sự sống) do do đó nó giúp điều trị những triệu chứng như: lưng dưới đau mỏi lạnh, tay chân lạnh, tiểu đêm. Nếu phần âm trong cơ thể lấn át phần dương khi phần dương đang suy yếu, phần dương buộc phải đi lên phía trên gây ra triệu chứng giả nhiệt.. Trong trường hợp này, tính ấm của Nhục Quế sẽ tán đi sự ảnh hưởng phần âm đang tích tụ và cho phép phần dương có thể trở về cổng (mệnh môn) ban đầu. Tuy nhiên trong trường hợp, phần dương bị tổn thương quá năng, dương không chỉ đi lên trên mà còn bị đẩy trôi dạt ra phía ngoài cơ thể (phía ngoài cơ thể được hiểu là da cơ – phần biểu) thì vị thuốc Nhục Quế không thích hợp.
- Mối liên hệ giữa Can và Thận ở mức độ kinh lạc và xương cốt cho thấy vị thuốc nhục quế hiệu quả trong điều trị những loại đau do hàn thấp gây tắc kinh mạch mà gây nên, đau xương khớp khắp cơ thể.
- Một số tài liệu cho rằng nhục quế dược lấy từ phần dưới của cây quế nên bản tính tự nhiên là đi xuống để làm ấm, bổ trợ dương. Màu tím của nó trợ cho lửa (hoả) và tính ấm khơi thông kinh lạc. Nó điều trị những trường hợp đau khớp do hàn lạnh gây huyết ứ trệ.
So sánh với vị thuốc CHẾ PHỤ TỬ
- Cả hai vị thuốc bắc Nhục Quế và Phụ Tử đều có tính ấm, mùi hăng và đi vào hạ tiêu để bổ thận dương, lửa ở mệnh môn, tán hàn, và điều trị chứng đau do hàn thấp gây nên. Hai vị thuốc bắc thường được phối hợp với nhau để điều trị những triệu chứng trên. Tuy nhiên, chế phụ tử thì đi vào tất cả 12 kinh và đặc biệt là mạch Đốc, trong khi nhục quế thì đi vào kinh tâm, Tỳ, Can, Thận.
- Cả hai đều có tính hăng, ấm, bổ cho dương. Tuy nhiên, khi phần dương bị tổn thương trầm trọng trôi nổi ra phía ngoài cơ thể thì chỉ có vị thuốc chế phụ tử nên được sử dụng vì vị thuốc chế phụ tử tính ấm là chủ yếu, tính hăng ở mức độ nhẹ; nhục quế thì cả hai tính này đều rất mạnh. Tính hăng quá mạnh sẽ làm khả năng tán trừ mạnh, điều này sẽ làm tán cả phần dương trong trường hợp phần dương quá suy yếu đang trôi nổi bên ngoài. Hãy nhìn vào bệnh cảnh thiếu âm hàn hoá trong Thương Hàn luận, Trương Trọng Cảnh, bạn có thể thấy, Chế Phụ tử được sử dụng mà không phải là vị thuốc Nhục Quế.
So sánh với vị thuốc QUẾ CHI
- Nhục quế và quế chi đều bắt nguồn từ cùng một loài, nhưng nhục quế là vỏ cây, quế chi là cành cây. Cả hai đều làm ấm phần khí và huyết, tán hàn. Tuy nhiên, vì nhục quế hiệu quả nhất trong việc làm ấm ở phía trong (lý) và giảm đau do hàn; và bởi vì nhục quế được lấy từ phần dưới của thân cây nên nó đi vào hạ tiêu để bổ thận dương và phục hồi phần lửa ở mệnh môn. Ngược lại, quế chi hiệu quả nhất trong việc tán hàn ở phía ngoài (biểu – da cơ), và bởi vì nó là cành cây, nó có xu hướng đi lên và mra phía ngoài để làm ấm và khơi thông kinh lạc..
