Nội dung bài viết
Giới thiệu

Theo Y học cổ truyền, về mặt bản chất các vị thuốc bắc được cấu tạo từ khí trời (phong, hàn, thử, thấp, táo, hoả) và khí đất (kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ). Chính sự phối hợp của 11 thứ khí này đã tạo nên tính chất và tính năng của các vị thuốc mà ta gọi chung là dược tính của thuốc bao gồm hình dáng, màu sắc, mùi vị, tính thăng giáng phù trầm và sự quy kinh của thuốc.
Do sự bẩm thụ nhiều hay ít của 11 thứ khí này một cách không đồng đều mà các vị thuốc khác nhau về dược tính và có thiên khí riêng. Qua quá trình phát triển, sinh hoạt và đấu tranh duy trì sự sống trong hàng nghìn năm, con người đã tích luỹ kinh nghiệm, nhận thức và biết sử dụng thiên khí này đua vào cơ thể của con người bị thiên lệch âm dương (bệnh) để tái lập lại cân bằng âm dương của cơ thể (khoẻ mạnh).
Các vị thuốc tồn tại trong thiên nhiên dưới 3 dạng:
- Thực vật
- Động vật
- Khoáng vật
Tính năng của các vị thuốc
Dù tồn tại ở dạng nào thì tác dụng dược lý của thuốc giúp điều chỉnh lại cân bằng âm dương của cơ thể nhờ vào tứ khí, ngũ vị, thăng giáng phù trầm, bổ tả và sự quy kinh của từng vị thuốc do khí trời và đất hợp lại tạo nên.
Tứ khí của vị thuốc
Tứ khí còn gọi là tứ tính, đây là 4 tính chất khác nhau của thuốc: lạnh, nóng, ấm, mát.
Vị thuốc có tính lạnh mát sẽ có tính trầm giáng, có công năng thanh nhiệt, tả hoả. giải độc
Vị thuốc có tính nóng ấm sẽ có tính thăng phù bay lên, giúp điều trị các triệu chứng hàn lạnh
Ngũ vị
Ngũ vị là 5 vị cay, đắng, mặn, ngọt, chua.
Vị cay có tính năng tán và hành giúp tán hàn, ra mồ hôi, hành khí hoạt huyết, khí huyết lưu thông
Vị ngọt có tính năng bồi bổ cơ thể
Vị đắng giúp tả hạ, giải độc
Vị chua có tính năng thu liễm, cố sáp, làm ngưng ra mồ hôi, ngăn di tinh hoạt tinh…
Mặn có tính nhuận hạ, nhuyễn kiên, nhuận trường thông tiện
Thăng giáng phù trầm
Là xu hướng tác động khác nhau của các vị thuốc bên trong cơ thể: thăng – đi lên, giáng- đi xuống, phù – tán ra, trầm – đi vào trong.
Những vị thuốc có tính thăng, phù thuộc dương, có tính năng thăng dương phát tán, giải biểu phát hãn ra mồ hôi, tán tà khí.
Những vị thuốc có tính trầm giáng thuộc âm, có tính năng tả hạ, lợi thuỷ, giáng nghịch, trọng trấn an thần, giáng nghịch chỉ khái.
Những vị thuốc có tính ấm nóng và vị cay ngọt hoặc bộ phận dùng là lá, hoa, vỏ phần nhiều có tính thăng phù
Những vị thuốc có tính mát lạnh và vị chua đắng mặn, hoặc bộ phận dùng là hạt, rễ, củ, khoáng vật, vỏ động vật phần nhiều là vị thuốc trầm giáng
Sự quy kinh của thuốc
Là chỉ tác dụng của thuốc đối với một bộ phận nào đó trong cơ thể, tức là tác dụng chủ yếu đối vớimootj hoặc nhiều kinh lạc, tạng phủ nào đó
Ví dụ: Hoàng cầm là vị thuốc bắc có tính lạnh, vị đắng, quy kinh Phế có công năng thanh phế nhiệt
Can khương có tính ấm, vị cay, quy kinh Phế có công năng ôn Phế hàn
Tang bạch bì và Toàn phúc hoa là vị thuốc có tính trầm giángquy kinh Phế có công năng thanh phế giáng nghịch
Bổ tả của các vị thuốc bắc
Những vị thuốc có cùng chung khí và vị nhưng tác dụng bổ tả khác nhau và ngược lại. Ví dụ: Hoàng liên và thiên môn đều có tính hàn nhưng hoàng liên có công năng thanh nhiệt táo thấp, còn Thiên môn công năng bổ âm.
